Hoạt động của UBND
10 NĂM THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC BIỂN VIỆT NAM
image image

Một số hạn chế, tồn tại Trong 10 năm qua, đóng góp của kinh tế biển và ven biển vào GDP cả nước từ 48% năm 2015, giảm xuống còn 40,73% năm 2010 và năm 2017 ước đạt 30,19%. Thu nhập bình quân đầu người của người dân ven biển có tăng, nhưng không cao hơn quá nhiều so với mức tăng trung bình của cả nước. Thu nhập bình quân của người dân sống ở 28 địa phương có biển đã tăng gấp 4,84 lần trong giai đoạn 2006 - 2016, nhưng vẫn thấp hơn so với cả nước về số tuyệt đối: Năm 2006 là 627 USD/người/năm so với mức 637 USD của cả nước, năm 2016 là 3.035 USD/người/ năm so với mức 3.049 của cả nước.

Đóng góp của ngành dầu khí vào kinh tế cả nước đã giảm rõ rệt. Theo Tổng cục Thống kê, đóng góp của ngành dầu khí (bao gồm cả thăm dò, khai thác và chế biến dầu, khí) vào GDP khá cao và ổn định trong giai đoạn từ 2007 - 2010, với mức đóng góp trung bình là 10,83%; sau đó giảm xuống mức trung bình 7,21% trong giai đoạn 2010 - 2014, đến năm 2015 mức đóng góp này chỉ còn 3,79% và năm 2017 là 2,76%.

Khai thác và chế biến hải sản đã tăng 50% trong 10 năm từ 2,07 triệu tấn năm 2007 lên 3,07 triệu tấn năm 2016 và 3,19 triệu tấn năm 2017. Giá trị xuất khẩu thủy sản những năm gần đây có xu hướng tăng, năm 2010 là 6,03 tỉ USD, năm 2016 đạt 7,05 tỉ USD; hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học – công nghệ biển, đào tạo nguồn nhân lực cho kinh tế biển; các cơ sở quan trắc, dự báo, cảnh báo biển, thiên tai biển, các trung tâm tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn… ở ven biển còn nhỏ bé, trang bị thô sơ, năng lực còn yếu kém. Các phương thức quản lý biển mới, tiên tiến còn chậm được nghiên cứu áp dụng như quản lý không gian biển, quy hoạch không gian biển.

Tình hình khai thác, sử dụng biển và hải đảo chưa hiệu quả, thiếu bền vững do khai thác tự phát, thiếu/không tuân thủ quy hoạch biển, đảo, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn lợi ích trong sử dụng đa ngành ở vùng ven biển, biển và hải đảo. Phương thức khai thác biển chủ yếu vẫn dưới hình thức sản xuất và đầu tư nhỏ, sử dụng công nghệ lạc hậu.

Môi trường biển bị biến đổi theo chiều hướng xấu. Ngày càng nhiều chất thải không qua xử lý từ các lưu vực sông và vùng ven biển đổ ra biển liên quan tới phát triển kinh tế - xã hội. Một số khu vực biển ven bờ và cửa sông bị ô nhiễm nghiêm trọng.

Đa dạng sinh học biển và nguồn lợi thủy sản giảm sút. Các hệ sinh thái biển quan trọng bị suy thoái. Rừng ngập mặn mất khoảng 15.000 ha/năm, khoảng 80% rạn san hô trong vùng biển Việt Nam nằm trong tình trạng rủi ro, trong đó 50% ở mức cao, tình trạng trên cũng diễn ra tương tự với thảm cỏ biển. Đã có khoảng 100 loài hải sản có mức độ nguy cấp khác nhau và trên 100 loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam.

Một số định hướng phát triển bền vững

Để phát triển một nền kinh tế biển hiệu quả và bền vững, phải giải quyết các mối quan hệ: giữa phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh trên biển; giữa phát triển kinh tế với đảm bảo an sinh xã hội trên biển; giữa phát triển kinh tế với sử dụng hợp lý tài nguyên biển, đảo; giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường biển; giữa phát triển vùng biển, ven biển và hải đảo với phát triển vùng nội địa.

Cần cơ cấu lại ngành nghề kinh tế biển trên từng địa bàn cho hợp lý, vừa bảo đảm khai thác hiệu quả tài nguyên biển, vừa thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Mở rộng hợp tác đa phương và hội nhập quốc tế để phát triển khoa học công nghệ biển và kinh tế biển, cũng như duy trì môi trường hòa bình trong khu vực biển Đông.

Phải thu hút mọi nguồn lực để phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường biển trên tinh thần chủ động, tích cực mở cửa. Phát huy đầy đủ, có hiệu quả các nguồn lực thu hút mạnh các nguồn lực bên ngoài theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

Hình thành một số lĩnh vực kinh tế mạnh gắn với xây dựng các khu kinh tế “hướng biển” làm động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước. Tăng cường khả năng tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn và phòng chống thiên tai. Nâng cao đời sống dân cư vùng ven biển, trên các đảo và những người hoạt động trên biển.

Cần tổ chức lại lãnh thổ vùng biển trên cơ sở quy hoạch sử dụng không gian tổng hợp dựa vào hệ sinh thái. Chú trọng mối liên kết vùng trong phát triển kinh tế biển và ven biển để phát huy sức mạnh lan tỏa của các khu kinh tế biển.

Quản lý và xử lý hiệu quả các chất thải, chất gây ô nhiễm trước khi đổ ra biển từ các lưu vực sông ven biển và từ các hoạt động kinh tế ven biển và trên biển. Tăng cường kiểm soát và sẵn sàng ứng cứu các sự cố và thảm họa môi trường biển, các vụ tràn dầu không rõ nguồn gốc… Quy hoạch mở rộng và quản lý hiệu quả hệ thống khu bảo tồn biển đến năm 2020 để phát triển nghề cá và du lịch sinh thái biển bền vững.

Tổ chức lại đội hình đánh bắt hải sản và tăng cường hiệu suất khai thác hải sản dựa trên việc ban hành riêng biệt các chính sách với nghề cá nhỏ và nghề cá lớn, cũng như quản lý tổng hợp nghề cá dựa trên cơ sở giải quyết đồng bộ vấn đề ngư dân, ngư nghiệp, ngư trường và dựa vào hệ sinh thái.

Thường xuyên nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư ven biển và trên các đảo, cùng với việc cải thiện sinh kế và xóa đói giảm nghèo, trên cơ sở đó giúp họ thay đổi hành vi cá nhân trong cách đối xử với môi trường biển…

Nguồn: Tạp chí Sổ tay xây dựng Đảng

Tác giả:
Lượt xem: 80 Bản in Quay lại
Tin mới hơn
Tin đã đưa
Bình luận
Ý kiến bạn đọc (0)
imageUser
Thông tin đăng nhập
Bạn vui lòng để lại thông tin để gửi bình luận
len-dau-trang
xuong-cuoi-trang